"Sau 5 năm, nhận thức về quyền của người cao tuổi và các quy định của Luật Người cao tuổi được chuyển biến mạnh mẽ...". Đó là một trong những thành tựu đạt được được đưa ra tại Hội thảo chia sẻ kết quả đánh giá 5 năm thực hiện Luật Người cao tuổi (NCT) do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TBXH) phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam tổ chức sáng nay 31/8, tại Trụ sở Bộ. Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm và bà Astrid Bant, Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam chủ trì Hội thảo. Tham dự còn có ông Đàm Hữu Đắc, Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam cùng đại diện các bộ, ngành, các địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước. 

     Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm cho biết, Luật NCT được thực hiện đến nay là 5 năm. Trong 5 năm đó, để triển khai Luật, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, thông tư để đưa Luật vào cuộc sống, đồng thời Chính phủ cũng ban hành các chương trình hành động quốc gia về NCT.

     Sau 5 năm thực hiện, những nội dung được quy định trong Luật NCT đang từng bước được hiện thực hóa đi vào cuộc sống. Cần phải có một đánh giá một cách tổng thể tính phù hợp, tính thực thi, tính hiệu lực của các quy định trong Luật cũng như các "khoảng trống" trong quá trình thực hiện Luật và kết quả triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc sau 5 năm Luật ban hành và có hiệu lực. Do đó, Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm đánh giá cao sự hỗ trợ của UNFPA cũng như sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương trong việc đánh giá xây dựng báo cáo này.

T10.NCT.1

 

Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm phát biểu khai mạc 

 

     Chia sẻ tại Hội thảo, bà Astrid Bant, Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam cho biết, trong 50 năm tới, số lượng người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng từ khoảng 600 triệu lên đến gần 2 tỷ người. Hiện nay, cứ 10 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên, đến năm 2050, tỉ lệ này sẽ là 1:5 và đến năm 2150 sẽ là 1:3.

 

     Việt Nam đã chính thức bước vào "thời kỳ già hóa" từ năm 2011 và là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Luật Người cao tuổi có hiệu lực từ năm 2010, là một bước đi nhanh chóng và phù hợp của Việt Nam đáp ứng với già hóa dân số. Nó cho thấy cam kết của Chính phủ trong việc đảm bảo quyền và cuộc sống của người cao tuổi. Trong bối cảnh dân số và phát triển kinh tế - xã hội mới, đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, việc phát triển và hoàn thiện luật pháp, chính sách đáp ứng với già hóa dân số phải được dựa trên các bằng chứng và phân tích khoa học để xác định các khoảng trống và đưa ra các khuyến nghị hướng tới một xã hội cho tất cả mọi người, ở đó cả người trẻ tuổi và những người không còn trẻ tuổi cũng được có cơ hội để đóng góp cho phát triển và được hưởng lợi ích từ đó.

 

     Tại đây, bà Astrid Bant đã chuyển tải tới các đại biểu 3 thông điệp: (1): Người cao tuổi mang lại lợi ích chứ không phải là gánh nặng cho xã hội; (2): Người cao tuổi là những thành viên tích cực và năng động trong xã hội. Chúng ta không được phép tiếp tục coi họ là những người chỉ tiếp nhận một cách thụ động các dịch vụ đồng nhất của Nhà nước; (3) Người cao tuổi phải được coi là một nguồn lực kinh tế quan trọng cho sự phát triển. Việt Nam cần thúc đẩy các cơ hội việc làm, quy định tuổi về hưu linh hoạt và phát triển kỹ năng cho người cao tuổi để giúp họ tăng thu nhập và có được lợi ích cho tuổi già.

 

     Theo Báo cáo đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Luật NCT, hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện Luật NCT đã được ban hành đầy đủ, bao quát mọi nội dung liên quan đến các vấn đề của NCT theo thẩm quyền của các ngành, các cấp tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến NCT. Chính phủ, các Bộ, ngành đã tích cực trong việc tổ chức thực hiện Luật NCT, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương để đảm bảo đưa Luật vào cuộc sống. Nhiều biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội để đáp ứng tốt hơn các quyền của NCT. Theo kết quả khảo sát, có tới 78% người cao tuổi và 72% đại diện các hộ gia đình có NCT biết về Luật NCT và các quyền của NCT cũng như các biện pháp bảo đảm quyền cho NCT. Nhờ vậy, quyền của NCT được đảm bảo tương đối tốt.

T10.NCT.2

 

Đại diện nhóm chuyên gia tư vấn trình bày Báo cáo kết quả  đánh giá 5 năm thực hiện Luật NCT 

 

     Trợ cấp xã hội là một trong những giải pháp bảo đảm đời sống vật chất cho NCT, đặc biệt là NCT nghèo. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành LĐ-TBXH và Hội người cao tuổi trong thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, hàng năm đã thực hiện trợ cấp xã hội cho trên 1,5 triệu người cao tuổi kịp thời, đúng đối tượng và minh bạch, góp phần giảm bớt khó khăn cho NCT.

 

     Cùng với việc đảm bảo chăm sóc vật chất thì công tác mừng thọ, chúc thọ NCT cũng được quan tâm đặc biệt. Đây là sự động viên về mặt tinh thần, rất có ý nghĩa đối với NCT. Trung bình mỗi năm đã tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho từ 1 triệu đến 1,1 triệu người cao tuổi, thăm hỏi động viên hơn 900 nghìn NCT khi ốm đau bệnh tật v.v...

 

Bên cạnh những thành tựu đạt được, báo cáo cũng chỉ ra những mặt còn hạn chế, tồn tại như: Còn một số nơi chính quyền địa phương, cơ sở chưa xác định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với NCT; Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách chưa kịp thời, thiếu chương trình, kế hoạch tuyên truyền tổng thể, phối hợp liên ngành; Khám bệnh, chữa bệnh ban đầu cho NCT ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn. Việc chăm sóc đời sống NCT về vật chất, tinh thần chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, nhất là ở các xã, phường còn khó khăn, phải dựa chủ yếu vào nguồn ngân sách hỗ trợ từ cấp trên; Công tác phối hợp, kiểm tra giám sát ở địa phương còn hạn chế, chưa được thường xuyên, liên tục.

 

     Căn cứ vào phân tích thực trạng tình hình, một số giải pháp được đề xuất một cách hệ thống giúp đẩy mạnh thực hiện Luật NCT trong giai đoạn tới. Cụ thể: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến thực hiện Luật NCT, trong đó tập trung nâng cao khả năng tiếp cận của NCT đến các dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, các dịch vụ về văn hóa, du lịch, vui chơi, giải trí, tham gia giao thông...; Nghiên cứu, rà soát các quy định trong Luật NCT đẩy mạnh hiệu lực thực thi của Luật và các văn bản liên quan; Các cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ sở cần xác định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với NCT, quan tâm, chỉ đạo hơn nữa trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể, xem hoạt động của NCT chính là thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội quan trọng trên địa bàn; Tăng cường kiểm tra giám sát về thực hiện Luật NCT, các chính sách về NCT để kịp thời có những phản ánh, điều chỉnh chính sách phù hợp, tốt hơn; Bảo đảm nguồn lực cho thực hiện Luật, cần ưu tiên nguồn lực cho hoạt động về NCT, của Ban công tác NCT, Ban Đại diệnNCT v.v...

 

Nguồn: Ủy ban quốc gia về NCT Việt Nam (ngày 31/8/2016)

 

 

 

 







16959

Trang web hiện có:
4 khách & 0 thành viên trực tuyến