Những năm qua, việc nâng cao chất lượng dân số của nước ta đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trước sự biến đổi nhanh chóng của cơ cấu dân số, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cần phải gắn với nâng cao chất lượng dân số nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững.

   giao-duc-dh

      Phó Tổng Cục trưởng Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) Nguyễn Văn Tân cho biết, kết quả tổng điều tra dân số năm 2009 và các cuộc khảo sát dân số quy mô cho thấy, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu về kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản ấn tượng. Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế. Nhờ làm tốt việc giảm mức sinh, giảm tốc độ gia tăng, nước ta đã bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng với hơn 62 triệu người (69% dân số) đang ở trong độ tuổi lao động. Nếu lực lượng này có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao sẽ tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ, làm tăng thu nhập bình quân đầu người và tạo ra giá trị tích lũy lớn cho tương lai, bảo đảm an sinh xã hội khi đất nước bước vào giai đoạn “dân số già”.

     Mặt khác, với quy mô hơn 90 triệu dân như hiện nay, nước ta được coi là một thị trường lớn, đầy tiềm năng, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Sự chuyển đổi nhân khẩu này đưa đến nhiều cơ hội thuận lợi, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, dân số nước ta đang bước vào giai đoạn biến đổi cơ cấu chưa từng có trong lịch sử. Đó là giai đoạn chuyển từ mức sinh cao sang mức sinh thấp; từ mô hình sinh sớm sang mô hình sinh muộn; từ mức tử vong cao sang mức thấp, nhất là mức tử vong trẻ em; từ cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn già hóa dân số và chuyển sang dân số già; từ cơ cấu dân số phụ thuộc sang cơ cấu dân số vàng... Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) tăng từ 53% lên 69,4%, người cao tuổi (trên 65 tuổi) tăng từ 5% lên 7,1%. Riêng trẻ em (từ 0 đến 14 tuổi) giảm từ 42% xuống 25,5%.

     Tuy nhiên, thực tế hiện nay vẫn còn những thách thức và vấn đề mới nảy sinh trong công tác dân số ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Đó là, Việt Nam là nước đông dân thứ 14 trên thế giới và thứ ba trong khu vực Đông - Nam Á, tốc độ tuy giảm nhiều nhưng do quy mô dân số đã khá lớn nên hằng năm vẫn tăng thêm gần triệu người. Chất lượng dân số còn thấp, trong khi đó tốc độ già hóa nhanh; mất cân bằng giới tính khi sinh trở thành vấn đề “nóng” nếu không có những giải pháp triệt để, xử lý kiên quyết sẽ để lại những hệ lụy nặng nề về mặt kinh tế - xã hội... Đã đến lúc, Việt Nam cần chuyển hướng chính sách dân số từ chỗ chỉ đặt trọng tâm vào kiểm soát mức sinh sang trọng tâm gắn dân số với tất cả các mặt của phát triển xã hội; nhất là đầu tư trọng điểm kiến thức, kỹ năng cho nguồn nhân lực dồi dào của thời kỳ cơ cấu dân số vàng.

     Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đã sớm quan tâm đến vấn đề dân số và coi trọng việc hoạch định chính sách dân số. Từ năm 1961, khi dân số khoảng 31 triệu người, nước ta đã ban hành các chính sách liên quan đến dân số. Từ năm 2011, chúng ta bắt đầu có chuyển hướng chính sách từ kiểm soát quy mô dân số sang nâng cao chất lượng dân số với ba mục tiêu cơ bản: Có quy mô hợp lý, cân bằng giới tính khi sinh và nâng cao chất lượng... Nội dung chính sách về quy mô dân số chuyển từ “chủ động kiểm soát” sang “chủ động điều chỉnh”; tốc độ tăng dân số từ “cản trở” thành “động lực” cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách dân số bao gồm cả “cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng” và “kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh”.

     Tuy nhiên, bà Rít-su Nác-ken - Quyền Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp quốc tại Việt Nam cho rằng: Để gắn chất lượng dân số với phát triển kinh tế - xã hội cần tạo được những chính sách đúng đắn và kịp thời để tận dụng cơ hội nguồn nhân lực dồi dào của dân số vàng. Vàng trong dân số không tự nhiên chuyển thành lợi ích cho nền kinh tế, cho nên Việt Nam nên chuyển hướng trọng tâm chính sách từ kiểm soát quy mô sang hướng tiếp cận toàn diện dân số và phát triển. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, đây là thời điểm Việt Nam cần đầu tư cho thanh, thiếu niên, nếu không muốn đánh mất cơ hội nguồn nhân lực dồi dào này.

     Năm 2014, nước ta có 90,5 triệu dân (trong đó, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm 69%), là dư lợi lớn của dân số Việt Nam góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh cũng tạo ra những thách thức như: việc làm và chất lượng lao động. Tỷ lệ lao động (15 tuổi trở lên) có trình độ sơ cấp trở lên hiện rất thấp, năm 2014, mới đạt khoảng 18% dân số.

GS, TS VŨ ĐÌNH CỬ (Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Dân số Gia đình và Trẻ em)

THANH MAI

 







16959

Trang web hiện có:
52 khách & 0 thành viên trực tuyến