Đảng và Nhà nước đã chính thức triển khai chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) từ năm 1961. Trong 30 năm đổi mới vừa qua (1986), chính sách dân số đã được lồng ghép vào chính sách phát triển kinh tế- xã hội. Trên cơ sở thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và quan điểm phát triển, chủ trương, chính sách dân số của Việt Nam chuyển từ tập trung vào giảm sinh sang chính sách dân số toàn diện, khuyến khích sự tự nguyện của người dân trong thực hiện chính sách.

     Quan điểm của Đảng và Nhà nước về DS-KHHGĐ
     Giai đoạn 1986-1990
     Bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng đã nhận định “Tình hình kinh tế-xã hội của đất nước đòi hỏi giảm tỷ lệ phát triển dân số” và “Nhiệm vụ đặt ra là giảm cho được tỷ lệ tăng dân số từ 2,2% hiện nay xuống 1,7% vào năm 1990”. Chính sách dân số thời kỳ này tập trung vào giảm tốc độ gia tăng dân số nhanh. Đối tượng vận động là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và nam giới có vợ trong độ tuổi sinh đẻ. Giải pháp thực hiện là cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) miễn phí, chủ yếu là vòng tránh thai; tăng cường công tác tuyên truyền vận động, tập trung vào những người trong độ tuổi sinh đẻ; có chế độ khen thưởng đối tượng thực hiện KHHGĐ và phạt đối với những người vi phạm chính sách.
     Nhà nước đã thể chế bằng Quyết định số 162/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về một số chính sách DS-KHHGĐ quy định mỗi cặp vợ chồng có 2 con, tuổi sinh con lần đầu, khoảng cách giữa các lần sinh; thành lập Ủy ban Quốc gia Dân số-Kế hoạch hóa gia đình do một Phó Thủ tướng đứng đầu; kiện toàn bộ máy làm công tác sinh đẻ có kế hoạch do Bộ Y tế là thường trực; kinh phí thực hiện Chương trình DS-KHHGĐ nằm trong kinh phí chi thường xuyên của Bộ Y tế và các địa phương.
     Tuy nhiên, năm 1990 tỷ lệ tăng dân số 2,2% không đạt được theo mục tiêu Đại hội đã đề ra. Tại Đại hội lần thứ VII (1991) Đảng đã nhận định “Nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội của nước ta có nguyên nhân ở tốc độ phát triển dân số quá cao” và chỉ rõ nguyên nhân không đạt mục tiêu là do “Công tác tuyên truyền vận động nhân dân chưa tiến hành tốt, đầu tư phương tiện cho công tác này quá ít và còn thiếu những chính sách nhất quán, đồng bộ và có hiệu lực”.
     Giai đoạn 1991-2000
     Tại Đại hội lần thứ VII (1991), Đảng đã khẳng định “Giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân. Tăng kinh phí, phương tiện, cán bộ, đồng thời thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, hành chính để đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch. Củng cố các tổ chức chuyên trách công tác DS-KHHGĐ”.
     Quan điểm của Đảng là “Phải thật sự coi việc giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách” và “Bảo đảm đủ kinh phí cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình. Phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mục tiêu”. Việc thực hiện những quan điểm này có ý nghĩa quyết định và đảm bảo sự thành công của Chương trình DS-KHHGĐ.
     Năm 1993, đứng trước “sự gia tăng dân số quá nhanh, một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, gây khó khăn rất lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi”, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương (khoá VII) đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về chính sách DS-KHHGĐ. Nghị quyết đã đề ra 5 quan điểm cơ bản về chính sách DS-KHHGĐ với mục tiêu tổng quát là “Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc” và mục tiêu cụ thể là “Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con, để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ 21. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này”.
     Thể chế hoá về mặt Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000”. Một số chính sách, chế độ đã được xây dựng, ban hành và thực hiện, bước đầu tạo môi trường thuận lợi và động lực thúc đẩy phong trào thực hiện KHHGĐ trong nhân dân ở cả cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng. Năm 1992, thành lập Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có Bộ trưởng phụ trách; kiện toàn hệ thống Ủy ban DS-KHHGĐ các cấp, có cán bộ chuyên trách xã; hình thành và phát triển mạng lưới cộng tác viên DS-KHHGĐ tại thôn, bản. Năm 1993, Chương trình quốc gia DS-KHHGĐ có ngân sách riêng, mục chi cho công tác DS-KHHGĐ nằm trong danh mục ngân sách Nhà nước.
     Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã khẳng định “Thực hiện đồng bộ chiến lược dân số trên cả ba mặt: quy mô dân số, cơ cấu dân số và sự phân bố dân số; giảm tỷ lệ phát triển dân số mỗi năm khoảng 0,4-0,6 phần nghìn” thông qua việc “Kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ. Phát triển mạng lưới dịch vụ KHHGĐ đến tận cơ sở, nhất là nông thôn, miền núi”. Chính sách dân số lần đầu tiên đã mở rộng nội dung đến vấn đề cơ cấu dân số và phân bố dân số.
     Kinh phí đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ được chính quyền các cấp quan tâm, các tổ chức quốc tế, các chính phủ và tổ chức phi chính phủ ủng hộ. Đầu tư cho công tác DS- KHHGĐ đã được tăng cường, năm sau cao hơn năm trước. Chỉ trong vòng 5 năm (từ năm 1991 đến 1995), ngân sách Trung ương chi cho công tác DS-KHHGĐ tăng gấp 16 lần so với mức đầu tư năm 1991. Đến 2000, ngân sách Trung ương chi gấp 1,6 lần kinh phí năm 1995.
     Giai đoạn 2000-2010
     Bước vào thập niên đầu của thế kỷ 21, khi mức sinh đã tiệm cận mức sinh thay thế (trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), chính sách dân số được mở rộng theo hướng toàn diện hơn, tiếp cận theo xu thế chung của quốc tế về các Mục tiêu thiên niên kỷ, từ “giảm tốc độ” gia tăng dân số sang “chủ động kiểm soát” quy mô dân số; từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “chăm sóc sức khỏe sinh sản-kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số”.
     Tại Đại hội lần thứ IX (2001), Đảng xác định: “Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản-kế hoạch hóa gia đình; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực”.
     Tại Đại hội lần thứ X (2006), khi mức sinh có biến động, tổ chức bộ máy thay đổi, Đảng tiếp tục xác định “Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Giảm tốc độ tăng dân số. Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số”.
      Năm 2001, Chính phủ đã ban hành Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 xác định quan điểm mở rộng toàn diện mục tiêu của chính sách dân số. Pháp lệnh Dân số (2003 và 2008) và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy chính sách dân số của Việt Nam đã thật sự chấm dứt thời kỳ áp dụng sự gò ép và chuyển sang khuyến khích sự tự nguyện của người dân trong thực hiện KHHGĐ.
Các chính sách về DS-KHHGĐ đã được ban hành khá đầy đủ từ trung ương đến các địa phương, tạo môi trường pháp lý cũng như những động lực và điều kiện để thu hút được sự tham gia hưởng ứng của toàn xã hội.
      Giai đoạn 2011 đến nay
     Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, mức sinh thay thế tiếp tục được duy trì và giữ vững. Chính sách dân số tiếp tục hoàn thiện. Mục tiêu ưu tiên của Chính sách dân số chuyển từ “kiểm soát quy mô dân số” sang “nâng cao chất lượng dân số”. Nội dung chính sách về quy mô dân số chuyển từ “chủ động kiểm soát” sang “chủ động điều chỉnh”; Tốc độ tăng dân số từ “cản trở” đã trở thành “động lực” cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách dân số bao gồm cả “cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng” và kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh”.
     Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng xác định chính sách dân số là “Bảo đảm quy mô hợp lý, cân bằng giới tính và chất lượng dân số”.
     Tại Đại hội lần thứ XI (2011), Đảng đề ra “Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm cân bằng giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số.”
     Chiến lược DS-SKSS Việt Nam (QĐ 2013/QĐ-TTg) 2010-2020 xác định quan điểm thực hiện công tác DS-KHHGĐ là “Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh”.
      Kết quả của công tác DS-KHHGĐ
     Từ chủ trương đúng, chính sách phù hợp, công tác DS-KHHGĐ đã đạt những kết quả đáng khích lệ trên các mặt: quy mô dân số, chất lượng dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số và quản lý dân số.
      Quy mô dân số
     Mục tiêu của cuộc vận động “Hãy dừng lại ở hai con để nuôi và dạy cho tốt” thực sự được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng. Nhận thức, thái độ, hành vi về DS-KHHGĐ của các nhóm đối tượng đã có chuyển biến tích cực. Công tác truyền thông, giáo dục đã từng bước được đổi mới cả về nội dung, hình thức và cách tiếp cận. Mô hình gia đình ít con ngày càng được chấp nhận rộng rãi. Vì thế, quy mô dân số của Việt Nam đã chuyển từ vị trí thứ 2 sang vị trí thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines).
Tỷ lệ tăng dân số được khống chế ở khoảng 1,05%/năm. Số người tăng bình quân hàng năm của Việt Nam đã giảm từ mức gần 1,2 triệu người/năm (giai đoạn 1979-1999) xuống còn 952 nghìn người/năm (giai đoạn 1999-2009).
     Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế vào năm 2006, sớm hơn 10 năm so với mục tiêu của Nghị quyết TW 4 (khóa VII); mức sinh thay thế duy trì liên tục trong 8 năm gần đây. Hiện nay, số con trung bình trên một người phụ nữ Việt Nam là 2 con, đứng thứ 4 (từ thấp đến cao) trong khu vực, sau Singapore (1,3), Thailand và Brunei (1,6).
Ngày 1/11/2013, dân số Việt Nam đạt 90 triệu người, chậm hơn so với dự báo 11 năm và trong vòng hơn 20 năm qua, Việt Nam đã tránh được 20,8 triệu trường hợp sinh. Đây là một thắng lợi hết sức to lớn của chương trình DS-KHHGĐ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của kinh tế-xã hội của đất nước, tăng GDP bình quân đầu người từ 140USD/người năm 1992 lên 1.540 USD/người năm 2012 (gấp hơn 10 lần).
     Mức sinh giảm xuống rõ rệt từ 30,1‰ (1979) xuống còn 17,23‰ (2014) đã làm giảm đáng kể số lượng trẻ em sinh ra. Năm 1979, tổng dân số của Việt Nam là 52,74 triệu người, và có 1,6 triệu trẻ em được sinh ra, trong khi các con số này của năm 2014 là 90,6 triệu người và 1,5 triệu trẻ em. Vì vậy, số lượng học sinh tiểu học đã giảm từ 9.741,1 nghìn (2000) xuống còn 7.043,3 nghìn (2010). Thành quả này của công tác DS-KHHGĐ đã tạo điều kiện để tăng chất lượng giáo dục ở Việt Nam những năm qua.
      Cơ cấu dân số
     Nhờ thành công của Chương trình DS- KHHGĐ, cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng. Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (15-64) tăng từ 53% năm 1979 lên 69% năm 2009. Việt Nam đang có cơ cấu “dân số vàng”. Đây là một cơ hội cho phát triển kinh tế-xã hội.
     Cũng nhờ thành công của Chương trình DS-KHHGĐ, tỷ lệ dân số 65 tuổi trở lên đã tăng từ 4,7% (1979) lên 7,1 (2014). Từ năm 2011, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số”.
     Từ năm 2006 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) tăng một cách bất thường. Do hầu hết người dân mong muốn có 2 con nhưng trong đó phải có con trai, dẫn đến lạm dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ nhằm lựa chọn giới tính trước sinh. Giai đoạn 2006-2008, TSGTKS tăng 1,15 điểm%/năm. Tuy nhiên từ năm 2009-2014, nhờ những nỗ lực của Chương trình DS-KHHGĐ, TSGTKS chỉ tăng 0,8 điểm %/năm.
     Chất lượng dân số
     Chất lượng dân số Việt nam trong những năm qua được nâng lên nhanh chóng, thể hiện ở một số điểm sau:
     Tỷ suất chết thô, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi, tỷ số tử vong bà mẹ giảm mạnh trong những năm vừa qua. Trong đó, đáng quan tâm nhất là tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm từ 36%o năm 1979 xuống 14,9%o năm 2014. Đây không chỉ là chỉ báo quan trọng về chăm sóc y tế đối với bà mẹ, trẻ em mà còn là chỉ báo về sự phát triển kinh tế-xã hội của một đất nước.
     Tuổi thọ trung bình khi sinh ngày càng tăng. Trong nửa thế kỷ (từ 1960 đến 2010), tuổi thọ trung bình khi sinh của thế giới tăng 21 tuổi (từ 48 lên 69 tuổi), trong khi của Việt Nam tăng 33 tuổi (từ 40 lên 73 tuổi).
     Trong những năm gần đây, nhiều mô hình can thiệp nâng cao chất lượng dân số về thể chất đã được nghiên cứu, thử nghiệm và từng bước mở rộng, cụ thể:
     - Mô hình sàng lọc trước sinh và sơ sinh: Phát triển hệ thống Trung tâm sàng lọc chẩn đoán trước sinh, sơ sinh để sàng lọc và chẩn đoán cho những đối tượng có nguy cơ cao; một số loại bệnh có tỷ lệ mắc cao được sàng lọc và tư vấn, điều trị.
     - Mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân.
     - Mô hình can thiệp giảm tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở một số dân tộc ít người.
     - Mô hình nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người.
     - Mô hình phát huy và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng....
     Thực tế triển khai các mô hình trên trong những năm qua cho thấy các mô hình được sự ủng hộ và tham gia mạnh mẽ của cộng đồng dân cư, từ lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương cho tới những người được hưởng lợi từ các mô hình. Chính vì vậy, các mô hình đều được tổ chức, triển khai tốt, đạt kết quả, hiệu quả cao, thiết thực đóng góp vào nâng cao chất lượng dân số.
      Phân bố dân số
     Dân số Việt nam có mật độ 267 người/km2, cao gấp 5,2 lần so với mật độ dân số thế giới, gấp 2 lần mật độ dân số Châu Á và đứng thứ 3 khu vực về mật độ dân số. Tuy nhiên, dân số Việt Nam phân bố rất không đều, tập trung ở khu vực thành thị, nông thôn và rất thưa thớt ở khu vực miền núi.
     Do xu hướng di dân và đô thị hóa ngày càng mạnh, tỷ lệ dân số thành thị và số đô thị tăng lên đáng kể. Tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 23,5% năm 1979 lên 33,1% năm 2014 và dự kiến sẽ tăng nhanh trong những năm tiếp theo. Số đô thị từ chỗ chỉ có 500 năm 1990 đã tăng lên 747 năm 2009. Những khu vực có số lượng người nhập cư lớn là: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Những khu vực có số lượng người xuất cư lớn là: Đồng bằng Sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
     Ngoài di cư trong nước, di cư quốc tế cũng tăng lên đáng kể. Hiện nay có khoảng 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hàng năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 80.000 lao động ra nước ngoài và hiện có 500.000 lao động Việt Nam tại hơn 40 nước. Số cô dâu Việt Nam lấy chồng người nước ngoài tăng đáng kể, đặc biệt là lấy chồng người Đài Loan, Hàn Quốc... Ngược lại, có khoảng 60.000 người nước ngoài đang sống tại Việt nam.
     Quản lý dân số
     Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ-HNTW (khoá VII) ngày 14/1/1993 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình và Nghị định số 42/CP ngày 21/6/1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và lề lối làm việc của Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ, hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ đã được hình thành từ trung ương xuống tỉnh, huyện, xã và các thôn, bản, khu phố. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số này cũng chính là những người quản lý dân cư trên địa bàn. Các cộng tác viên dân số, không chỉ là những người “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, tuyên truyền về KHHGĐ mà còn là những người ghi chép, cập nhật và báo cáo về tình hình biến động dân số trên địa bàn. Có thể nói, với hệ thống sổ sách, biểu mẫu, báo cáo của hệ thống cán bộ DS-KHHGĐ, cơ quan dân số các cấp đã có một hệ thống số liệu tương đối đầy đủ, chi tiết và chính xác về dân số trên địa bàn.
     Đặc biệt, sau khi hoàn thiện kho dữ liệu điện tử DS-KHHGĐ, được thường xuyên cập nhật và báo cáo qua mạng vào năm 2013, số liệu về dân số tương đối đầy đủ và chính xác giúp hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

     Kết luận

     Từ những phân tích nêu trên về sự phát triển quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề dân số có thể khẳng định rằng, chính sách, chiến lược DS-KHHGĐ trong 30 năm qua (1986-2016) là đúng đắn, thể hiện cả về nội dung, cách làm, đầu tư kinh phí và tổ chức bộ máy thực hiện:
     - Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: Chủ trương của Đảng được cụ thể hóa, chi tiết hóa bởi các chính sách, chiến lược, chương trình mục tiêu, dự án. Nghị quyết phát triển kinh tế-xã hội hàng năm của Quốc hội đều có các chỉ tiêu về dân số. Chính phủ xây dựng và thực hiện các Chiến lược thuộc lĩnh vực này. Chương trình DS-KHHGĐ trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia, các Dự án được thiết kế và triển khai.
     - Tổ chức bộ máy: Xây dựng bộ máy độc lập, chuyên trách làm công tác DS-KHHGĐ đủ mạnh. Giai đoạn 1992-2002, có bộ máy tổ chức độc lập - hệ thống Ủy ban DS-KHHGĐ các cấp, hàng năm tỷ suất sinh giảm nhanh gấp 4,3 lần so với các năm trước đó. Điều này cho thấy tính hiệu quả của mô hình.
    - Nguồn lực: Đảm bảo đủ kinh phí để thực hiện công tác DS-KHHGĐ. Ngân sách Trung ương dành cho DS-KHHGĐ tăng lên nhanh chóng là nguồn vốn chủ lực thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Sự đóng góp của người dân, ngân sách địa phương, viện trợ của các tổ chức quốc tế và nước ngoài cũng tăng đáng kể.
      - Phương thức quản lý: theo Chương trình mục tiêu – đảm bảo hiệu quả các hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng kinh phí.
     - Truyền thông: Đẩy mạnh và đa dạng hoá các loại hình truyền thông. Có các chiến lược truyền thông phù hợp với Chính sách dân số theo từng giai đoạn. Nội dung truyền thông, kênh truyên thông, đội ngũ cán bộ truyền thông được đa dạng hóa để phù hợp với từng nhóm đối tượng, làm cho công tác tuyên truyền có sức hấp dẫn và thuyết phục.


ThS. Đinh Thái Hà*

________________________________________
* Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế.







29509

Trang web hiện có:
73 khách & 0 thành viên trực tuyến