Chiến lược an sinh xã hội (ASXH) giai đoạn 2011-2020 là một bộ phận cấu thành của “Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định “xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VI chỉ rõ “từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống ASXH để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”. Người cao tuổi (NCT) là một trong những nhóm đối tượng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã có rất nhiều chính sách được đưa ra nhằm đảm bảo cho NCT một cuộc sống tốt cả về thể chất, tinh thần và sức khỏe. Hiện nay, Việt Nam đang có xu hướng già hóa dân số nhanh. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước đã và đang xây dựng các chương trình ASXH cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi được coi là nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương.

     An sinh xã hội
     Thực tiễn hiện nay, từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên có những cách giải thích về ASXH khác nhau. Hiệp hội An sinh Quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân. Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH), chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho gia đình nạn nhân có trẻ em. Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực mới nhưng đã được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này.
     ASXH theo nghĩa rộng: Là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội (1).
     ASXH theo nghĩa hẹp: Là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập, do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ.
     Trong Chiến lược ASXH giai đoạn 2011-2020, “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”.
     Bản chất của ASXH là tạo ra mạng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác. Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc.
     An sinh xã hội cho Người cao tuổi
     Ở Việt Nam, NCT được pháp luật quy định là những người từ đủ 60 tuổi trở lên. Đa số NCT Việt Nam hiện nay là thế hệ sinh ra trong thời kỳ trước 1950, nhiều người tham gia các cuộc đấu tranh giữ nước, xây dựng đất nước. Do sinh ra và trưởng thành trong các điều kiện hết sức khó khăn họ không có điều kiện bảo vệ sức khoẻ và tích luỹ vật chất cho tuổi già. Chính vì vậy, khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc thích nghi với thay đổi.
     Nguồn sống của NCT Việt Nam khá đa dạng: từ lao động của chính bản thân NCT (30%), lương hưu trợ cấp và của cải tích lũy từ khi còn trẻ và do con cháu chu cấp (39,3%). Có sự khác biệt đáng kể giữa NCT thành thị và nông thôn về nguồn sống từ lương hưu, trợ cấp hoặc tự lao động để kiếm sống. Lương hưu hoặc trợ cấp là nguồn sống chính của 35,6% NCT ở thành phố, trong khi chỉ có 21,9% NCT ở nông thôn được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp. Tự lao động để kiếm sống là cách của 35,2% NCT ở nông thôn, khi chỉ có 17,5% NCT ở thành phố phải làm như vậy. NCT thành thị có lương hưu/trợ cấp và tích lũy cao hơn 1,5 lần so với NCT nông thôn, ngược lại nguồn sống của NCT nông thôn từ lao động của chính mình cao hơn gấp 2 lần NCT thành thị. Tuy nhiên, nguồn tài chính do con cháu trợ cấp vẫn đóng vai trò quan trọng và hoàn toàn không phụ thuộc vào đời sống kinh tế giữa thành thị và nông thôn (tương ứng 40,1% ở thành thị và 38,9% ở nông thôn) cũng như nguồn lương hưu và nguồn sống từ lao động của NCT(4). Ở NCT, tuổi càng cao thì sự lệ thuộc vào chu cấp của con cháu càng lớn, tỷ lệ này tăng từ 26,3% (nhóm 60-69 tuổi) lên 46,6% (nhóm 70-79 tuổi) và 66,7% (nhóm từ 80 tuổi trở lên). NCT ở nhóm nghèo nhất lệ thuộc vào con cháu nhiều hơn (48,9% nhóm nghèo và 38% ở nhóm giàu).
     Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn “già hóa dân số” và các chính sách an sinh cho NCT càng được chú trọng. Theo Luật, NCT được hưởng các chính sách theo quy định của Nghị định “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT” (số 06/2011, NĐ-CP), trong đó: NCT được quan tâm chú ý và được hưởng các dịch vụ chăm sóc. Ngoài ra, NCT còn được hưởng các chính sách bảo trợ xã hội khác.
     Những thành tựu trong việc thực thi chính sách an sinh cho NCT
     Thực hiện đường lối Đổi mới, trong gần 30 năm qua, công tác đảm bảo ASXH đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các chính sách và giải pháp đảm bảo ASXH được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: (1) Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt (2) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm vv... (3) Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các địa phương để phục vụ người dân tốt hơn.
     Hệ thống pháp luật về ASXH ngày càng được hoàn thiện, trở thành căn cứ pháp lý quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Số người tham gia bảo hiểm bắt buộc tăng nhanh, từ 4,8 triệu (2001) lên 9,4 triệu (2009), chiếm 18% tổng số lao động. Sau gần 3 năm triển khai BHXH tự nguyện, đến năm 2010 có khoảng 96,6 nghìn người tham gia. Dự kiến đến hết năm 2010 có khoảng 5,8 triệu người tham gia BHXH tự nguyện tăng nhanh từ 13,4% dân số (2000) lên 62% (2010). Đặc biệt, đã thực hiện chính sách BHYT miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ BHYT cho các hộ cận nghèo vv... Mức trợ cấp ưu đãi năm 2009 tăng 2,1 lần so với năm 2006, thực hiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho hơn 1,4 triệu người có công. Đến nay, hơn 90% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn.
     Ưu điểm của hệ thống ASXH Việt Nam trong thời gian qua là đã hỗ trợ đắc lực cho người nghèo, người yếu thế và nhiều đối tượng khác. Các chính sách ASXH từng bước được mở rộng về phạm vi, đối tượng và mức hưởng. Hệ thống chính sách ASXH cho nhóm NCT, là nhóm thường rất nhạy cảm trước mỗi hành vi xã hội có liên quan đến đời sống tinh thần cũng như các quyền lợi hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
     Trong những năm vừa qua, đời sống vật chất và tinh thần của NCT đã được cải thiện cùng với sự phát triển của đất nước. NCT, người cô đơn được hưởng chính sách của nhà nước hỗ trợ cuộc sống và chăm sóc sức khỏe; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng phong phú đa dạng. NCT nghèo, thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội được cấp Thẻ BHXH miễn phí; các hoạt động chăm sóc sức khỏe NCT ở cộng đồng được tổ chức rộng rãi hơn và NCT ốm đau được hưởng chăm sóc của gia đình, cộng đồng… Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng 1,3 triệu đối tượng hưởng chính sách bảo trợ của nhà nước, cộng thêm hàng năm có khoảng 1 triệu người cần cứu trợ đột xuất do thiên tai, 27 nghìn đối tượng đang được nuôi dưỡng tại 317 cơ sở bảo trợ xã hội và hàng trăm mái ấm tình thương có chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội.
     Tuy tuổi thọ trung bình cao nhưng gánh nặng bệnh tật của người Việt Nam cũng cao, bình quân mỗi người dân có tới 15,3 năm là ốm đau, bệnh tật so với 73 năm tuổi thọ. NCT đang đối diện với gánh nặng “bệnh tật kép”, một đặc trưng của các quốc gia đang phát triển khi cùng lúc phải giải quyết các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và tai biến bệnh tật, mặt khác phải đương đầu với các bệnh không lây truyền. Khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền (Báo cáo kết quả hoạt động của Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam, 2012). Chính vì vậy, công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT đang là vấn đề được quan tâm nhất hiện nay.
     Vấn đề đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở công cộng và tính đến việc ưu tiên NCT gần đây được quan tâm nhiều để phục vụ NCT tốt nhất và thuận lợi nhất.
     Những hạn chế trong việc thực thi các chính sách ASXH cho NCT
     Việc thực hiện ASXH ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém: Giảm nghèo chưa bền vững, người dân ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn. Nguồn lực để thực hiện ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, với diện bao phủ và mức hỗ trợ còn thấp. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung còn thấp, vẫn còn không ít tiêu cực, phiền hà. Tất cả những hạn chế này đã đặt hệ thống ASXH của nước ta trước nhiều thách thức lớn cần phải tiếp tục được nghiên cứu, hoàn chỉnh.
     Đối với nhóm NCT, việc thực thi chính sách ASXH cho nhóm này còn rất hạn chế. Hệ thống chăm sóc NCT hiện nay còn nhiều bất cập: nhận thức về già hóa dân số và tác động tới phát triển kinh tế-xã hội còn hạn chế; các cấp lãnh đạo chưa nhận thức rõ vấn đề; xã hội thay đổi cách nhìn nhận đối với người già; bản thân NCT chưa nhận thức được sự cần thiết phải chăm sóc, bảo vệ bản thân; người dân ở nông thôn chưa quan tâm chuẩn bị cho tuổi già; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe công lập không đảm bảo được nhu cầu khám chữa bệnh của NCT; trình độ của các bác sỹ còn hạn chế…
     Hiện tượng già hoá dân số cũng đặt ra nhiều khó khăn cho hệ thống ASXH hiện hành và trong tương lai. Theo ước tính của Uỷ ban quốc gia NCT, tỷ lệ NCT ở Việt Nam sẽ là 16% vào năm 2020 và tiếp tục gia tăng những năm sau đó. Nhu cầu thăm khám, chữa bệnh tăng lên, tuy nhiên sau hơn 1 năm triển khai Thông tư số 35/2011/TT-BYT thống kê mới nhất của Bộ Y tế cho thấy, cả nước mới có 28 bệnh viện ở Tỉnh và Trung ương thành lập Khoa Lão khoa, còn nhiều bệnh viện chưa triển khai. Mặc dù gánh nặng bệnh tật đối với NCT Việt Nam là khá lớn khi có tới 95% NCT có bệnh nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng y tế, chưa phát triển kịp với sự gia tăng nhanh chóng của NCT và yêu cầu được chăm sóc của họ.
     Hệ thống ASXH cho NCT hiện nay chưa có tính hỗ trợ cho đa số NCT. Với hơn 9 triệu NCT trên cả nước, hệ thống chính sách ASXH ở nước ta mới hỗ trợ nâng cao đời sống cho một phần nhỏ NCT, gần 2,97 triệu người (39% NCT) được hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội, trong đó, khoảng 1,4 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; có 680 nghìn người hưởng chính sách đối với người có công; gần 890 nghìn người thuộc diện chính sách trợ cấp xã hội.
     Qua hệ thống ASXH, hầu hết NCT cô đơn không có nguồn thu nhập đã được Chính phủ hỗ trợ qua hình thức trợ cấp xã hội hàng tháng. Như vậy, trợ cấp hưu trí và trợ cấp xã hội hằng tháng được coi là nguồn thu nhập chính cho số NCT này, tuy nhiên mức độ bao phủ của các chương trình này đối với NCT chưa cao. Thậm chí, những người thụ hưởng các chương trình này cho biết mức trợ cấp còn thấp và chỉ chiếm một phần nhỏ trong chi tiêu của hộ gia đình. Mức độ tiếp cận các chương trình bảo trợ xã hội hiện thời chưa dễ dàng với NCT do các quy định nghiêm ngặt hoặc do các mức lợi ích đưa ra thấp. Đến cuối năm 2008, tổng số NCT được hưởng chế độ BTXH theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP giải quyết được 91,9%. Những NCT từ 60 đến dưới 85 tuổi bị tàn tật, cô đơn đủ điều kiện để được hưởng chế độ theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP giải quyết được 91,1%. Chương trình hưu trí dựa trên đóng góp với cơ chế tài chính đóng đến đâu hưởng đến đó đang tạo ra sự bất bình đẳng giữa các thế hệ, giới tính, và bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế nhà nước và tư nhân.
     Kết luận
     Trong Chiến lược ASXH thời kỳ 2011-2020, Đảng và Nhà nước tiếp tục coi bảo đảm ASXH là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên với quan điểm "tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả". Mục tiêu chủ yếu đến năm 2020 trở thành nước có mức sống trung bình cao của thế giới; thực hiện BHYT toàn dân; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%-3%/năm; phúc lợi, ASXH và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được bảo đảm; thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư...
     Xu hướng già hóa dân số đang tăng nhanh hiện nay đòi hỏi cần có những chính sách an sinh làm sao đảm bảo được các nhu cầu cho nhóm yếu thế và thiệt thòi và tránh tình trạng ngân sách nhà nước được đưa ra hỗ trợ chưa đúng người, đúng việc. Chăm sóc NCT cả về đời sống vật chất và tinh thần là một nội dung quan trọng trong chính sách mà Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn nhấn mạnh trong tất cả các giai đoạn phát triển của đất nước. Theo dự báo về dân số NCT, các chính sách và chương trình này mới chỉ điều chỉnh dần từng bước và chính điều này gây ra một số thách thức như hệ thống chăm sóc lão khoa chưa được phát triển đầy đủ; tỷ lệ NCT được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và chăm sóc NCT có chất lượng còn thấp; quỹ hưu trí với hình thức đóng tới đâu hưởng tới đó chưa thực sự hỗ trợ người lao động là NCT và còn có nhiều sự mất công bằng giữa các thế hệ và mất cân bằng về giới; còn có nhiều vướng mắc khi xét tham gia hoặc không cho phép tham gia vào các chương trình hỗ trợ xã hội.
     Cải cách hệ thống an sinh xã hội, trong đó xây dựng một lộ trình để chuyển đổi dần hệ thống hưu trí và bảo hiểm xã hội thích hợp và phù hợp với tình hình phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam và trên cơ sở đảm bảo công bằng đóng - hưởng cho người tham gia (cùng thế hệ và giữa các thế hệ). Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu "dân số vàng”, nếu tận dụng triệt để cơ hội này Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện thành công bước chuyển đổi này bằng nhiều nguồn lực, xây dựng một hệ thống trợ giúp/trợ cấp xã hội phổ cập và dễ tiếp cận cho NCT.
     Nghiên cứu xây dựng chính sách chuẩn bị cho tuổi già để tăng cường hệ thống ASXH nhằm hỗ trợ chăm sóc cho NCT trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm của các nước như: Quy định tất cả những người từ 30 tuổi trở lên nộp thuế thu nhập với mức 1 tháng lương cơ bản/1 năm để hưởng chính sách khi tuổi già (Hàn Quốc), xây dựng kế hoạch tiết kiệm y tế cá nhân căn cứ theo thu nhập cá nhân với các dịch vụ chăm sóc (trong Bảo hiểm y tế cho mỗi cá nhân) để họ có thể sử dụng khoản tiết kiệm y tế của mình chi trả viện phí của bản thân cũng như cha mẹ của họ. Hỗ trợ Hệ thống ASXH bằng việc đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm.

 Tài liệu tham khảo

1. Mai Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, tr21
2. Mai Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, tr22
3. Nguyễn Thị Lan Hương, Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020, Tạp chí Lao động và xã hội, số 19, quý II, 2009.
4. Nguyễn Văn Chiều, An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của KHXH vào quá trình hoạch định chính sách ASXH ở Việt Nam.
5. Phạm Vũ Hoàng. Đời sống vật chất NCT Việt Nam – thực trạng và khuyến nghị. Tạp chí Dân số và Phát triển, 10 (217).
6. Mai Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, tr4.
7. Nguyễn Tấn Dũng, Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Tạp chí Cộng sản, Số 285 (9/2010), tr5.
8. NCT, người già cô đơn và vấn đề pháp lý trợ giúp đối tượng này ở địa phương.
9. Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam, Báo cáo số 36/BC-UBQGNCT ngày 25/7/2011.
10. Trung ương Hội NCT Việt Nam, Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện pháp lệnh NCT (2001 - 2008), Báo cáo số 22/BC-NCT ngày 31/12/2008.

TS. Nguyễn Thế Huệ*

_______________________________________
* Viện Nghiên cứu Người cao tuổi.







28248

Trang web hiện có:
6 khách & 0 thành viên trực tuyến